Các bệnh về mắt ở trẻ em

Bảo vệ đôi mắt cho người lớn đã khó, đối với trẻ nhỏ bảo vệ “cửa sổ tâm hồn” còn khó hơn.

Bệnh đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ (ĐMĐ) còn gọi là viêm kết mạc. Nguyên nhân của ĐMĐ thường là nhiễm vi khuẩn, virus hoặc phản ứng dị ứng… Mặc dù ĐMĐ gây kích thích mắt nhưng hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực.

Nguyên nhân

- Do bé nhiễm vi khuẩn hoặc virus.

- Do bé phản ứng với thời tiết như khi trời lạnh.

- Do bé mắc một số chứng bệnh khác có liên quan đến tình trạng đau mắt đỏ như chứng bệnh về tai, viêm xoang, viêm họng…

- Do dị ứng: Trường hợp này xuất hiện với các bé có cơ địa mẫn cảm. Một số yếu tố tăng nguy cơ dị ứng cho mắt bé là phấn hoa, cỏ dại, lông động vật, bụi bẩn, hóa chất….

Triệu chứng

Triệu chứng đau mắt đỏ có thể khác nhau ở tùy từng bé. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất của chứng bệnh này là mắt bé trở nên đỏ, khó chịu, mí mắt bé như dính vào nhau (đặc biệt vào buổi sáng khi bé vừa thức giấc). Một số bé có triệu chứng phồng mí mắt hoặc nhạy cảm với ánh sáng.

Phòng bệnh

- Tuyệt đối không dùng tay bẩn hoặc khăn bẩn lau dụi mắt.

- Cần giữ vệ sinh tay sạch sẽ bằng cách rửa xà phòng.

- Tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ dùng như khăn, chậu với người đau mắt đỏ.

- Trong môi trường tập thể: nhà trẻ mẫu giáo, trường hợp bị đau mắt đỏ cần được nghỉ ở nhà điều trị.

Điều trị

- Có thể chườm lạnh mắt 3-4 lần trong ngày.

- Có thể sát trùng nhẹ bằng nước muối nhẹ

- Trường hợp khó chịu nhiều, cộm mắt, tra dung dịch kháng sinh

Ngoài ra, các bạn cần lưu ý thêm về chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt:

- Chắc chắn rằng chế độ ăn uống của mình có chứa đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho mắt, nhất là vitamin A.

- Các loại thành phần dinh dưỡng tốt cho mắt bao gồm cần tây, dầu cá, lòng đỏ trứng gà, gan động vật…

- Uống nhiều nước, khoảng 6 – 8 ly nước/ngày để giữ độ ẩm cần thiết cho mắt.

- Ngủ đủ thời gian, ít nhất là 7 giờ/ngày, bởi đó là cách tốt nhất giữ cho đôi mắt của trẻ luôn khỏe mạnh.

Chứng đau mắt đỏ ở bé sơ sinh:

Nhóm người mẹ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; nhiễm vi khuẩn hoặc virus trong quá trình sinh nở thì bé có thể mắc chứng đau mắt đỏ.

Để phòng tránh hiện tượng này, bác sĩ thường dùng thuốc nhỏ mắt kháng sinh, vệ sinh mắt bé ngay sau khi chào đời. Tuy nhiên, một số trường hợp, thuốc nhỏ mắt chứa kháng sinh có thể gây viêm màng kết cho bé. Bác sĩ khuyến cáo, phụ nữ trước khi có ý định mang thai nên khám và điều trị dứt điểm các bệnh phụ khoa (nếu có) để tránh lây nhiễm cho bé.

Đau mắt đỏ do virus thường tự khỏi mà không cần điều trị. Nếu nghi ngờ đau mắt đỏ do nhiễm khuẩn, bác sĩ sẽ chỉ định cho bé dùng thuốc mỡ (thuốc nhỏ mắt) chứa kháng sinh.

Đôi khi, việc đếm số giọt thuốc nhỏ mắt cho bé đúng theo chỉ định của bác sĩ là khó khăn. Vì thế, bạn hãy đặt đầu lọ thuốc vào góc trong của mắt bé (khi bé đã nhắm mắt); sau đó, khi bé mở mắt, thuốc sẽ từ từ chảy vào trong. Nếu vẫn khó khăn, bạn nên yêu cầu bác sĩ cho thuốc mỡ nhỏ mắt cho bé. Thuốc mỡ được quết trên mí mắt (mắt đã nhắm) rồi khi thuốc tan, nó sẽ chảy vào trong mắt.

Nếu bé bị đau mắt đỏ do dị ứng, bác sĩ sẽ kê thuốc chống dị ứng cho bé, gồm thuốc uống và thuốc nhỏ mắt.

Một chiếc gạc mát (hoặc ấm) sẽ khiến đôi mắt bị đau của bé dễ chịu. Bạn có thể vệ sinh góc mắt bị bệnh cho con cẩn thận với nước ấm và đầu tăm bông. Cách này cũng loại bỏ nhử ướt và nhử khô khiến mắt bị dính chặt vào buổi sáng.

Thời điểm nên đưa bé đi khám

Nếu bạn nghi bé bị đau mắt đỏ, cần đưa bé đi khám ngay. Bác sĩ sẽ quyết định nguyên nhân và cách điều trị. Nếu bé kêu bị đau mắt, thay đổi thị giác, nhạy cảm với ánh sáng, bạn cũng cần đưa con đi khám sớm. Nếu đau mắt đỏ không cải thiện sau 2-3 ngày điều trị thì cũng cần đưa con đi khám.

Nếu đôi mắt bị đau ở bé bắt đầu sưng, đỏ và mềm ở mí mắt và khu vực quanh mắt, kèm sốt, hãy đưa bé đi khám. Những triệu chứng này cho thấy nhiễm khuẩn đã đi xa hơn bệnh đau mắt đỏ và cần điều trị thêm.

Đục thủy tinh thể ở trẻ nhỏ

Nhân mắt hay còn gọi là thể thủy tinh, nó là một thấu kính trong suốt, nằm ở ngay sau đồng tử. Nhân mắt bình thường trong suốt và có khả năng điều tiết và hội tụ các tia sáng lên võng mạc nơi điểm vàng, giúp chúng ta nhìn rõ mọi vật xung quanh. Nhưng khi có biểu hiện khác thường như nhân mắt bị đục, khiến cho những tia sáng không thể đi qua được, tùy theo mức độ đục mà trẻ có thể nhìn mờ hoặc không nhìn thấy gì. Khác với người lớn, đục nhân mắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến chứng nhược thị.

Nguyên nhân đục thủy tinh thể

Đục nhân mắt tức là thể thủy tinh bị đục, còn gọi là cườm mắt (Catarac). Có nhiều nguyên nhân phát sinh ra chứng đục nhân mắt ở trẻ. Chẳng hạn như đục nhân mắt bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Chủ yếu có 2 nguyên nhân chính, một là do di truyền, gặp 10 - 25%. Hai là do nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virút (rubeon, herpes, cúm, quai bị...). Nó có thể xảy ra một cách tự nhiên và không kèm với một bệnh nào khác hoặc trong các hội chứng. Đục nhân mắt này có thể xảy ra ở 1 mắt hoặc cả 2 mắt.

Đục nhân mắt bệnh lý do các bệnh tại mắt như: viêm màng bồ đào, glôcôm, bong võng mạc, u nội nhãn... hoặc do các bệnh toàn thân như: đái tháo đường, bệnh galactoza huyết, têtani, bệnh da...

Đục nhân mắt do chấn thương khi vết thương xuyên, tình trạng này thường gây nên đục nhân mắt ở 1 mắt của trẻ em. Một số dạng đục này có đặc biệt là tiến triển từ từ sau hàng tuần hoặc nhiều tháng, dạng khác xuất hiện ngay trong lúc bị chấn thương.

Xử trí đục nhân mắt trẻ nhỏ

Cách xử trí được tiến hành cụ thể là: cho dù đục nhân mắt do nguyên nhân nào đi nữa thì mọi trường hợp đục nhân mắt đều ngăn cản sự phát triển của thị lực nên cần phải được lấy nhân mắt đục đi bằng phẫu thuật để phục hồi thị lực. Ở trẻ nhỏ, đây là một phẫu thuật khẩn cấp để phòng nhược thị.

Một đường rạch nhỏ ở trong mắt, qua đó nhân đục được lấy ra. Bệnh nhân cần được nằm viện khoảng từ 1 - 2 ngày. Cả phẫu thuật và phục hồi chức năng tiến bộ rất nhiều trong những năm gần đây. Cho dù mắt được mổ lành rất nhanh, nhưng trẻ cần được che mắt lại trong vòng 1 – 2 tuần để giữ cho trẻ không bị những va chạm hoặc những chấn thương vào mắt.

Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng. Khoảng 95% phẫu thuật nhân mắt ở trẻ em không có vấn đề gì, tuy nhiên có thể gặp xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glô-côm. Biến chứng nặng phải bỏ nhãn cầu rất ít gặp.

Khả năng tiến triển của mắt sau phẫu thuật sẽ có những diễn biến như sau khi lấy nhân mắt đục đi cần thiết phải điều chỉnh quang học cho con mắt này. Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng hiệu quả không cao do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%.

Kính tiếp xúc thông thường và có kết quả ở trẻ nhỏ để thay thế cho nhân mắt tự nhiên. Các bà mẹ cần phải biết cách chăm sóc kính tiếp xúc, cách lắp vào, lấy ra và phải biết phát hiện những dấu hiệu không bình thường để báo kịp thời cho bác sĩ.

Đặt thể nhân mắt nhân tạo (thủy tinh nhân tạo) là xu hướng mới nhất, nhân mắt nằm ở vị trí tự nhiên của nhân mắt tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi chức năng thị giác.

Chú ý: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ phát triển nhược thị ngay cả khi đã được phẫu thuật đạt kết quả cao và điều chỉnh quang học tốt. Do vậy sau mổ, trẻ cần phải tập luyện bằng cách bịt mắt lành nhằm phục hồi thị lực lâu dài.

Trẻ em dễ bị mù do thiếu vitamin A

Vitamin A có vai trò rất quan trọng đối với mắt. Thiếu vitamin A gây triệu chứng quáng gà, dẫn tới khô mắt, nhuyễn biểu mô kết giác mạc gây mù. Vì vậy, các bậc cha mẹ và mọi người cần biết cách phòng, phát hiện sớm bệnh và xử trí đúng để tránh mù lòa cho trẻ em.

Dấu hiệu giúp phát hiện sớm bệnh là gì?

Biểu hiện sớm nhất của thiếu vitamin A là bệnh quáng gà: vào lúc chập choạng tối, trẻ còn bé có thể hay theo nhầm người khác tưởng là mẹ, trẻ nhỏ đi lại khó khăn, hay va vấp phải các đồ vật trong nhà, hoặc phải lần theo tường để đi. Đối với trẻ lớn hơn thì không dám chạy theo bạn đùa nghịch, thường ngồi yên ở góc nhà hoặc bậc cửa. Trong khi ăn cơm, trẻ thường xúc trượt đĩa thức ăn. Giai đoạn khô kết mạc (hay khô lòng trắng mắt):  nếu khỏe mạnh, lòng trắng mắt của trẻ phải ướt đều, bóng láng, trong suốt. Khi bị khô mắt, lòng trắng mắt bị khô, trở nên sần sùi, không còn ướt bóng nữa. Dần dần, lòng trắng mắt của trẻ bị mờ đục, đổi thành màu vàng nhạt hoặc xám nhạt, nhăn nheo. Ở lòng trắng mắt của trẻ xuất hiện những đám bọt xốp màu trắng như bọt xà phòng. Khi đó trẻ hay chớp mắt, hay cụp mắt nhìn xuống khi ra chỗ sáng.

Giai đoạn khô nhuyễn giác mạc (khô lòng đen), ở trẻ khỏe mạnh, lòng đen mắt phải nhẵn bóng, ướt đều, trong suốt, trông đen nhánh. Khi bị khô mắt, lòng đen mắt trở nên mờ đục, sần sùi, trông lờ mờ như tấm kính bị bám hơi nước. Nếu không được phát hiện bệnh và điều trị kịp thời, chỉ trong vài ngày, lòng đen mắt bị nhuyễn nát, loét ra, tạo thành ổ loét có màu vàng bẩn, rồi mắt bị thủng và nhiễm khuẩn. Để đến giai đoạn này mới đưa trẻ đi bệnh viện khám chữa bệnh thì đã muộn, nhất định sẽ để lại sẹo giác mạc gây mù loà, nghiêm trọng hơn có thể phải khoét bỏ con mắt. Ở trẻ bị khô mắt thường kèm theo các bệnh nặng khác như suy dinh dưỡng, tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá kéo dài, viêm phổi, viêm phế quản, sởi... có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng.

Xử trí và chăm sóc khi trẻ bị bệnh ra sao?

Cha mẹ hay người nuôi dưỡng khi thấy trẻ có các triệu chứng kể trên phải nhanh chóng đưa trẻ đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất. Khi đã xác định trẻ bị bệnh khô mắt cần cho cho uống  ngay vitamin A liều cao 200.000 UI. Trường hợp không có sẵn vitamin A 200.000 UI, có thể cho trẻ uống 4 viên vitamin A 50.000 UI. Đối với vùng sâu vùng xa không thể mua ngay được vitamin A, có thể cho trẻ ăn ngay mỗi ngày từ 1 - 2 lạng gan lợn hoặc gan bò nấu chín. Tốt nhất là cho trẻ vào điều trị ở khoa nhi các bệnh viện để kết hợp điều trị suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn khác.

Phòng bệnh thiếu vitamin A cho trẻ em

Phụ nữ khi có thai và trong thời kỳ cho con bú cần được ăn đủ lượng và chất hàng ngày, uống nước nhiều và nghỉ ngơi đầy đủ để đảm bảo con sinh ra được khoẻ mạnh. Chú ý trong thời gian 3 tháng đầu có thai, phụ nữ không được uống vitamin A liều cao vì có thể xảy ra dị dạng bẩm sinh cho thai nhi. Cần nuôi con bằng sữa mẹ ngay từ khi mới đẻ cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi hoặc hơn.  

Từ tháng thứ 4 trở đi cần cho trẻ ăn dặm để đảm bảo thức ăn cung cấp đủ vitamin A, chất đạm và chất béo cũng như muối khoáng hàng ngày.  Vitamin A có nhiều trong các thức ăn có nguồn gốc động vật như gan, lòng đỏ trứng, cá, sữa nhưng có rất ít trong thịt nạc. Chất tiền vitamin A có nhiều trong các loại quả, củ có màu đỏ hoặc màu vàng sẫm như gấc, bí ngô, xoài, hồng, khoai lang nghệ, quả trứng gà…; các loại rau có màu xanh sẫm như rau ngót, rau cải, rau  mồng tơi, rau dền, rau đay, rau lang, thì là, súplơ...

Khi trẻ từ  6 tháng tuổi trở đi, cần cho trẻ đi uống vitamin A liều cao bổ sung định kỳ 6 tháng/lần theo lịch của cơ quan y tế. Khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu thiếu vitamin A đầu tiên như quáng gà, khô lòng trắng mắt, cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế để khám và uống vitamin A kịp thời sẽ phòng tránh mù loà cho trẻ.

Bốn bệnh có thể gây mù

Glôcôm bẩm sinh (còn gọi cườm nước) là bệnh có thể gây biến chứng không hồi phục như mờ mắt, mù lòa. 80% các trường hợp glôcôm bẩm sinh xảy ra ở bé trai, chỉ có 20% là ở bé gái. Có thể nhận biết bệnh glôcôm khi thấy mắt trẻ to ra hơi khác thường, mắt không trong suốt, trẻ sợ ánh sáng, nheo mắt khi ra nắng, chảy nước mắt sống. Nếu bệnh chỉ xảy ra ở một mắt, có thể thấy sự khác biệt rõ rệt về màu sắc và kích thước giữa hai mắt: mắt to và màu xanh thường là mắt bệnh. Khi phát hiện các dấu hiệu này phải đưa trẻ đi khám mắt ngay.

BS Trần Thị Phương Thu - giám đốc BV Mắt TP - cho biết những bệnh có thể gây mù, lé, nhược thị ở trẻ em thường gặp nhất là bệnh ROP, glôcôm bẩm sinh, đục thủy tinh thể và bướu nguyên bào võng mạc. Tuy bệnh nguy hiểm, nhưng nếu trẻ được phát hiện và điều trị sớm sẽ ngăn được mù lòa, giảm biến chứng.

Bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP) là bệnh mắt do sự phát triển bất thường của mạch máu võng mạc ở trẻ sinh non hay thiếu tháng, nhẹ cân. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời trẻ có nguy cơ mù vĩnh viễn cả hai mắt. Những trẻ cần khám mắt để phát hiện bệnh ROP là trẻ cân nặng lúc sinh dưới 1,5kg, hoặc tuổi thai lúc sinh dưới 33 tuần; cân nặng lúc sinh từ 1,5-2kg nhưng bị ngạt khi sinh, nằm lồng ấp, thở oxy kéo dài, có những bệnh khác kèm theo; cân nặng lúc sinh 1,5-2kg và đa thai (sinh đôi, sinh ba).

Bướu nguyên bào võng mạc là bệnh ung thư ở mắt, thường xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh biểu hiện rất âm thầm và khó phát hiện ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, gia đình nên chú ý quan sát mắt trẻ ngay sau khi chào đời và phát hiện những dấu hiệu bất thường sớm dù chỉ là chảy nước mắt, lé, đỏ, đau. Khám định kỳ mắt cho trẻ ít nhất mỗi năm một lần. Những biểu hiện thường thấy của bệnh bướu nguyên bào võng mạc (giai đoạn tương đối muộn) là đồng tử trắng: mắt bé sáng trắng, nhất là vào ban đêm như ánh mắt mèo; lé nhẹ cũng là dấu hiệu thường gặp; mắt đỏ, đau nhức; giảm thị lực; sưng tấy hốc mắt; lồi mắt; chảy máu trong mắt không do chấn thương. Song cũng có một số trường hợp không có biểu hiện bất thường, chỉ phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe định kỳ tại trường học.

Đục thủy tinh thể (TTT) bẩm sinh sẽ làm ánh sáng không vào đến được võng mạc, gây mờ mắt. Tùy mức độ TTT bị đục mà thị lực bị giảm nhiều hoặc ít.

Nguyên nhân bệnh có thể do di truyền, hoặc do mẹ bị nhiễm siêu vi lúc mang thai... Trẻ có thể bị bệnh từ lúc mới sinh ra, có trẻ bị từ 3-4 tuổi. Ở trẻ nhỏ, khi đục TTT còn ít, chưa ảnh hưởng đến thị lực, chưa cần điều trị, chỉ cần khám theo dõi định kỳ. Nếu đục TTT ảnh hưởng một phần thị lực, cần điều trị với kính hoặc điều trị nhược thị. Khi đục TTT nhiều gây mờ mắt, ảnh hưởng đến việc học của trẻ, cần phải phẫu thuật.

Tái khám đúng hẹn

BS Phương Thu đặc biệt lưu ý vì sự an toàn cho mắt của bé, dù bé bị bệnh gì (một trong các bệnh trên) thì việc theo dõi và tái khám theo hẹn của BS rất quan trọng. Với trẻ bị glôcôm, sau khi được mổ, cha mẹ cần theo dõi cho trẻ uống và nhỏ thuốc đúng cách, đúng liều lượng theo toa BS. Cho trẻ đi khám định kỳ theo hẹn để được đo nhãn áp, thử thị lực và soi đáy mắt. Nếu trẻ có hiện tượng đau nhức, chảy nước mắt hay mắt bị đục lại, cần tái khám ngay...

Với trẻ bị ROP, tùy theo tình trạng bệnh, BS sẽ hẹn tái khám vài ngày, một tuần hay hai tuần sau hoặc có khi cần phải điều trị ngay. Trẻ cần được khám cho tới khi qua khỏi giai đoạn nguy hiểm. Cũng cần lưu ý khi trẻ có bệnh ROP, dù cho là thể nhẹ không cần điều trị, một số biến chứng muộn vẫn có thể xảy ra như lé, cận thị, tăng nhãn áp, bong võng mạc trễ. Do đó theo dõi lâu dài ở một bệnh viện chuyên khoa mắt nhi là cần thiết để phát hiện và can thiệp kịp thời. Đặc biệt chú ý những trường hợp bệnh ở một mắt hoặc mắt này nặng hơn mắt kia.

Với trẻ bị đục TTT, sau mổ cũng cần được tái khám, theo dõi lâu dài để giúp thị lực phát triển tốt nhất. Đồng thời để phát hiện và điều trị các biến chứng có thể xảy ra làm mờ mắt như: đục bao sau, tăng áp, tật khúc xạ, nhược thị. Cho trẻ đi tái khám ngay khi mắt đau, nhức, đỏ, mờ đột ngột. Riêng trẻ bị ung thư mắt, quan trọng nhất là không được bỏ điều trị và cần tái khám theo hẹn BS.

Đồng tử trắng- dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ nhỏ

Triệu chứng

Hầu hết các bệnh gây đồng tử trắng đều không có triệu chứng rõ rệt (không đau, không nhức, nhìn vào không thấy có gì đặc biệt…). Trẻ lại không diễn đạt được tình trạng của mình nên bệnh chỉ được phát hiện một cách tình cờ khi đi khám một bệnh khác. Vì vậy, cha mẹ cần chú ý theo dõi đôi mắt của con; nếu thấy đồng tử có màu trắng, cần nghĩ ngay đến các bệnh dưới đây và đưa trẻ đi khám ngay.

Các bệnh gây đồng tử trắng

Đục thủy tinh thể bẩm sinh hoặc ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện ngay sau khi sinh, hoặc tiến triển trong những năm đầu của cuộc đời. Có hai nguyên nhân chính là do di truyền (tỷ lệ khoảng 10% – 25%) hoặc bị nhiễm khuẩn trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là các bệnh do virus (rubeon, herpes, cúm, quai bị…). Khác với người lớn, đục thủy tinh thể ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (dưới 8 tuổi) gây cản trở lớn cho sự phát triển chức năng thị giác, thường dẫn đến nhược thị. Cách điều trị là phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo. Sau này, trẻ có thể nhìn thấy bình thường.

Đục thủy tinh thể có thể xảy ra ở một mắt hoặc cả hai mắt. Tuy nhiên điều quan trọng là cần phát hiện sớm và phẫu thuật gấp để phục hồi thị lực. Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả cao nhưng vẫn có thể xảy ra biến chứng như xuất huyết, nhiễm khuẩn, bong võng mạc và glôcôm.

Các bác sĩ khuyến cáo, chúng ta nên kiểm tra mắt cho trẻ bằng cách chiếu đèn, quan sát đồng tử. Nếu thấy trong đồng tử có ánh trắng thì bắt buộc phải đưa bé đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt. Nên theo dõi phản xạ nhìn của bé, nếu đến 2 – 3 tháng tuổi mà bé vẫn chưa biết nhìn theo tay mẹ khi di chuyển đồ vật cũng là dấu hiệu bất thường về mắt.

Ung thư võng mạc

Theo các bác sĩ chuyên khoa, ung thư võng mạc mắt là một trong những dạng bệnh phổ biến ở trẻ em từ 1 – 3 tuổi, đa số trước 6 tuổi.Bệnh thường để lại di chứng nguy hiểm nếu phát hiện trễ như mù lòa, khối u di căn lên não theo dây thần kinh thị giác dễ dẫn đến tử vong…

Nếu chữa trị kịp thời, mắt của trẻ vẫn được giữ nguyên hoặc thị lực có giảm nhưng không đáng kể. Mức độ ung thư cả hai mắt chiếm 25% trong tổng số trẻ mắc chứng bệnh bướu nguyên bào võng mạc. Trong số những bệnh nhân này, lần đầu thường phát hiện được ở một bên mắt, bên còn lại xuất hiện sau đó từ vài tháng tới một năm.

Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ mắc bệnh này còn có thể bị lé, mắt đau, đỏ, tăng nhãn áp. Nếu thấy các dấu hiệu trên, cần cho trẻ đi khám ngay vì đây là bệnh rất nguy hiểm, cần chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Bác sĩ sẽ cho trẻ siêu âm, chụp CT hay MRI để xác định bệnh. Tùy theo giai đoạn bệnh và kích thước của u, bác sĩ sẽ quyết định điều trị bằng tia, làm lạnh đông, hóa trị hay múc bỏ mắt.

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non

Thường gặp ở những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 1,5 kg và tuổi thai dưới 36 tuần. Bệnh ở thể nặng thường gặp ở trẻ có trọng lượng dưới 1,2 kg và tuổi thai dưới 28 tuần. Cách điều trị: phẫu thuật, lạnh đông hay quang đông. Nếu bệnh nhẹ, tỷ lệ phẫu thuật thành công có thể lên đến 75%. Trong một số ít trường hợp nhẹ, bệnh sẽ tự lành.

Giãn mạch võng mạc (bệnh Coat)

Thường xảy ra ở trẻ nam, dưới 10 tuổi, bị ở một mắt. Ngoài chứng đồng tử trắng trẻ, còn có thể bị lé. Khi khám, bác sĩ thấy ở võng mạc có mạch máu giãn nở, ngoằn ngoèo, thoát ra các chất mỡ màu hơi trắng ở cực sau hay ngoại biên của mắt. Bệnh có thể tiến triển thành bong võng mạc, đục thủy tinh thể hoặc viêm màng bồ đào. Việc điều trị (áp lạnh đông hay dùng laser) không giúp cải thiện thị lực mà chỉ có thể không cho bệnh tiến triển nặng thêm.

Nhiễm ký sinh trùng của loài chó (Toxocara)

Thường thấy ở trẻ lớn. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ còn có những u hạt ở phần sau mắt hoặc bị viêm pha lê thể. Xác định bệnh bằng cách thử máu. Điều trị: cho uống thuốc chống sán và cortisone.

Cách phòng bệnh tốt nhất là cha mẹ nên quan tâm đến con cái, thường xuyên quan sát tròng đen mắt của trẻ và đưa đi khám ngay lập tức khi có những dấu hiệu khác thường.

Lẹo mắt ở trẻ

Nhận biết

Ở chân của mỗi sợi lông mi có một nang lông có nhiệm vụ tiết ra chất nhờn. Khi vi khuẩn xâm nhập gây viêm sẽ khiến nang sưng to, chất bã nhờn ứ đọng lại tạo thành kén mà dân gian thường gọi là lẹo mắt.

Khi lẹo mới mọc, mi mắt sưng nhẹ, hơi đỏ, ngứa, đau, tiếp đó ở chỗ đau nổi lên một khối rắn to cỡ hạt gạo. Lẹo thường mọc ở ngay bờ mi, dính chặt vào da mi, sau 3-4 ngày lẹo mưng mủ và vỡ.

Nếu lẹo mọc ở phía trong mi, thường là do viêm tuyến sụn mi, nhìn phía ngoài thấy có một cục đỏ, đau, lật mi ra thấy có một khối mủ, bọc trong một bao xơ.

Nếu lẹo mọc ở góc trong gần vùng lệ đạo, viêm tấy, có nhiều mủ thì phải cảnh giác vì vùng này gần tĩnh mạch xoang hang có thể gây nhiễm khuẩn máu.

Lẹo rất hay tái phát, lan từ mi này sang mi khác, có khi sưng to cả mi mắt và gây ứ phù màng tiếp hợp.

Nguyên nhân gây lẹo

Theo các chuyên gia y tế, lẹo mắt có thể do phong nhiệt bên ngoài thâm nhập vào cơ thể, hoặc do ăn quá nhiều các thứ cay nóng, khiến cho hỏa độc uất kết ở tỳ vị gây nên.

Nguyên nhân nữa là do viêm, áp xe mủ tuyến Zeis hoặc do nhiệt độc ở vị bốc lên.

Lẹo biến chứng khiến viêm tấy nhanh, gây đau nhức. Vỡ mủ ra thì xẹp đi nhưng có thể tái phát hết chỗ này đến chỗ khác.

Chăm sóc và điều trị

Nếu không chữa dứt điểm, lẹo có thể hết rồi lại xuất hiện hoặc lây lan qua nang lông kế cận hoặc gây viêm.

Khi lẹo còn nhỏ hoàn toàn có thể dùng thuốc kháng sinh dạng mỡ hoặc dung dịch thuốc nhỏ mắt, bôi vào vùng mí mắt có lẹo mỗi ngày kết hợp với giữ vệ sinh mắt, mi mắt và vùng da quanh mắt.

Ngoài ra, bạn có thể chườm lẹo với khăm tẩm nước ấm ít nhất 4 lần/ngày, khoảng 5 phút mỗi lần.

Bạn cũng nên chú ý vệ sinh sạch sẽ tay chân cho con vì trẻ nhỏ hay dùng tay bẩn đưa nên mắt dẫn đến viêm nhiễm. Nếu tái diễn nhiều lần rất có thể ảnh hưởng đến các dây thần kinh mắt gây ảnh hưởng đến thị lực của trẻ.

Hàng ngày bạn nên nhỏ nhiều lần bằng nước muối sinh lý 0,9% để rửa mắt và tránh viêm nhiễm cho trẻ.

Lời khuyên

Nên để lẹo tự lành chứ không dùng tay nặn mủ để tránh bệnh trầm trọng hơn.

Bệnh thường tự khỏi nếu biết giữ gìn và vệ sinh đúng cách.

Cần đi khám bác sĩ nếu lẹo tiếp tục sưng to sau vài ngày nhỏ, bôi thuốc, chảy máu, mắt không chịu đựng được với ánh sáng.

Lác mắt có nguy hiểm hay không?

Nhiều bậc cha mẹ vì nghĩ rằng mắt lác chỉ là vấn đề xấu – đẹp nên khi mắt con bị lác lại không đi khám và điều trị sớm. Khi trẻ lớn lên, bắt đầu quan tâm đến hình thức mới tới gặp bác sĩ thì thị lực đã giảm nghiêm trọng. Theo các bác sĩ, lác mắt không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà nếu không điều trị sớm, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

Dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểmBé H. (5 tuổi) ở Thanh Hóa bắt đầu có biểu hiện lác từ khi gần 3 tuổi. Tuy nhiên, gia đình cho rằng triệu chứng không gây hại gì đến sức khoẻ và khả năng nhìn, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên định để cháu lớn lên mới điều trị. Gần đây, thấy con có dấu hiệu nhìn kém, bố mẹ H. mới đưa cháu đi khám. Bác sĩ chẩn đoán H. mắc chứng đục thuỷ tinh thể bẩm sinh giai đoạn nặng và lác mắt chính là một hệ quả của bệnh này. Cha mẹ không nên chủ quan khi thấy con bị lác mắt vì đó có thể là biểu hiện của một số bệnh lý nguy hiểm, mà đục thuỷ tinh thể bẩm sinh là một ví dụ. Bệnh này cần được chữa sớm bởi nếu để lâu, tế bào thị giác của trẻ sẽ thoái hoá và rất khó phục hồi.

Ngoài lác, đục thủy tinh thể bẩm sinh còn có một số biểu hiện dễ thấy là lỗ con ngươi của trẻ có màu trắng phấn, thường bị cả hai bên. Mắt có những cử động bất thường như rung lắc. Trẻ nhìn kém, hay dụi mắt, nheo mắt khi nhìn.

Khám mắt cho trẻ tại Bệnh viện mắt TP. HCM.Bệnh lý khối u võng mạc (thường là ung thư) cũng có thể gây lác. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Nếu phát hiện muộn, trẻ sẽ phải múc bỏ mắt để bảo toàn tính mạng.Lác do khối u thường có dấu hiệu đi kèm là ánh đồng tử bệnh nhân có thay đổi. Khi trẻ ở trong bóng tối, ánh mắt có màu xanh lơ hoặc trắng xám. Mắt bên tổn thương trông rất dại, vô hồn. Nếu để muộn, mắt có thể đỏ, lồi, gây đau nhức và buồn nôn.

Ngoài ra, các bệnh như viêm màng bồ đào, tổn thương ở não bộ… cũng có thể gây lác. Do đó, khi có biểu hiện này, trẻ cần được đưa đi khám ngay.Nguyên nhân lác mắt ở trẻLác mắt là do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt. Bình thường, các cơ của mắt hoạt động rất cân bằng dưới sự điều khiển của các dây thần kinh để hai tròng mắt nhìn đúng hướng. Khi sự cân bằng này mất đi, mắt không nhìn được đúng hướng và sinh ra lác. Nguyên nhân gây lác có thể có tật về mắt như cận thị, loạn thị, viễn thị, gặp bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu, bị chấn thương mắt, sụp mí, lác mắt cũng do di truyền… Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nhìn lệch, nhìn phải nghiêng đầu, không tập trung vào một đồ chơi, không có phản ứng với ánh sáng thì các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi khám để điều trị càng sớm càng tốt. Như thế, mắt bé có cơ hội trở lại bình thường.

Bác sĩ nhãn khoa sẽ có phương pháp luyện tập mắt, cho trẻ đeo kính hoặc phẫu thuật…Cần được điều trị sớmCác tật khúc xạ như viễn thị, loạn thị hoặc viễn – loạn thị phối hợp cũng gây lác mắt ở trẻ em, nhất là khi khúc xạ hai mắt lệch nhau. Trường hợp này thường gây lác vào trong. Nếu trẻ bị cận thị số cao nhưng không đều hai bên thì mắt nặng hơn thường bị lác ra ngoài.

Các bác sĩ khuyến cáo, ngay cả với các trường hợp kể trên, lác mắt cũng không phải chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nếu không điều trị, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.Do đó, chứng lác cần được điều trị càng sớm càng tốt, và phải chữa dứt điểm trước tuổi đi học. Sẽ là quá muộn khi bệnh nhân đã 5-7 tuổi bởi lúc này não bộ và thị giác đã phát triển hoàn hảo, việc điều trị thường không mang lại hiệu quả cao.

Cách phòng ngừa nhược thị ở trẻ

Nhược thị là hiện tượng suy giảm khả năng hoạt động của thị giác. Việc phát hiện bệnh này không dễ, vì nhiều trẻ không có biểu hiện khác thường về thị lực, nhất là chỉ bị một bên mắt. Vậy biểu hiện và cách phòng ngừa bệnh như thế nào?

Điều trị muộn, khó phục hồi

Chị Lê Thị Hạ (Q.8, TP.HCM) có con bị lé hai mắt từ nhỏ. Nghĩ rằng bị lé là do bẩm sinh nên chị chủ quan bỏ qua. Đến khi học lớp 1, biết con không nhìn thấy chữ trên bảng, chị mới đưa con đi khám và phát hiện bé bị nhược thị do lé với thị lực chỉ 2/10.

Nhược thị có hai loại: nhược thị chức năng (có thể phục hồi, không kèm các bệnh lý thực thể ở mắt) và nhược thị thực thể (không thể phục hồi, có kèm theo các bệnh lý về mắt). Nhược thị hầu như chỉ xảy ra ở một mắt, nhưng đôi khi có thể giảm thị lực ở cả hai mắt, dẫn đến thị lực bị giảm sút mà không thể điều trị bằng cách chỉnh độ kính. Có ba mức độ nhược thị: nhẹ từ 6 – 8/10, trung bình từ 3 – 5/10 và nặng ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 2/10.

Nguyên nhân thường gặp nhất là do trẻ bị lé ở một mắt, hai mắt hoặc lé luân phiên. Ở Việt Nam có tới 2 – 4% trẻ em bị lé và 50% trong số đó bị nhược thị do cha mẹ thiếu thông tin và không đưa đi khám, điều trị kịp thời.

Ngoài ra, trẻ bị nhược thị còn do không điều chỉnh kịp thời hiện tượng khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị, bất đồng khúc xạ) bằng việc đeo kính nên đã cản trở việc phát triển thị lực. Hoặc môi trường trong suốt của mắt bệnh nhân bị che khuất do bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh, sụp mí bẩm sinh hay sẹo giác mạc, đục pha lê thể, bệnh tồn tại ống động mạch…

ThS-BS Nguyễn Thanh Thoại – BV Mắt TP.HCM cho biết: “Nếu trẻ bị tật khúc xạ và các bệnh khác mà không đeo kính, điều trị kịp thời thì hình ảnh tại võng mạc sẽ không rõ nét, lâu ngày dẫn tới nhược thị. Có khoảng 36% trẻ bị tật khúc xạ học đường cần điều chỉnh kính, trong đó đa số các em đều mắc bệnh nhược thị. Nếu không điều trị sớm, mắt có thể bị suy nhược, thậm chí mù”.

Cách phòng ngừa

Việc phát hiện bệnh này không dễ, vì nhiều trẻ không có biểu hiện khác thường về thị lực, nhất là chỉ bị một bên mắt. Dù có nhìn kém, trẻ cũng dễ dàng thích nghi với tình trạng thị lực đó và chẳng than phiền gì.

Trẻ nhược thị có thể có biểu hiện hay nheo mắt, nghiêng đầu vẹo cổ khi nhìn, đôi khi trẻ nhức đầu, nhức mắt hoặc tình cờ phát hiện mờ một hoặc hai mắt do tự che mắt. Nhưng nhiều khi bệnh không được phát hiện do không có biểu hiện khác thường nào. Vì vậy, gia đình nên cho trẻ đi khám mắt định kỳ để có thể phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Để phòng ngừa các tật khúc xạ – yếu tố nguy cơ hay gặp nhất đối với trẻ, cần hướng dẫn trẻ ngồi học thẳng lưng, mắt cách mặt chữ 30cm; phòng đủ ánh sáng, bàn ghế đúng tiêu chuẩn theo từng cấp học, đèn để phía đối diện với tay cầm bút. Không nên cho trẻ đọc sách, xem ti vi, chơi điện tử quá hai giờ liên tục. Ngoài ra, không nên cho trẻ đọc sách trên tàu xe, khi nằm ngửa hoặc ở những nơi thiếu ánh sáng. Chế độ ăn uống điều độ, nhiều chất xơ và vitamin cũng góp phầnđảm bảo thị lực cho trẻ.

“Trẻ được điều trị càng sớm thì thị lực phục hồi càng nhanh và có nhiều khả năng thị lực trở về bình thường. Quá trình phục hồi nhược thị sẽ mất nhiều thời gian và chi phí; việc can thiệp có thể cải thiện được một phần nhưng khó có thể hoàn toàn bình thường nếu trẻ quá 10 tuổi. Các yếu tố quyết định thành công là sự hiểu biết và phối hợp của các bậc phụ huynh, tuổi của trẻ, mức độ nhược thị cũng như các bệnh mắt kèm theo. Sau khi thị lực đạt được tối đa, trẻ vẫn cần được theo dõi cho đến 9 – 10 tuổi theo hướng dẫn của bác sĩ để phòng nhược thị tái phát” – ThS.BS. Thanh Thoại cho biết thêm.

Trẻ mắc bệnh cận thị do đâu?

Nguyên nhân gây bệnh cận thị là gì?

Hai nguyên nhân chính gây bệnh cận thị là do bẩm sinh và mắc phải.

Bệnh bẩm sinh do yếu tố di truyền, cha mẹ cận thị thì con cũng bị cận thị. Loại này có đặc điểm là độ cận cao, có thể trên 20 đi ốp, độ cận tăng nhanh cả khi đã ở tuổi trưởng thành, có nhiều biến chứng như: thoái hóa hắc võng mạc, xuất huyết hoàng điểm, bong hoặc xuất huyết thể pha lê, rách hay bong võng mạc…, khả năng phục hồi thị lực của bệnh nhân kém dù được điều trị.

Bệnh cận thị mắc phải thường gặp ở lứa tuổi học sinh, do các em học tập, làm việc, nhìn gần nhiều trong điều kiện thiếu ánh sáng, mắt không được nghỉ ngơi hợp lý. Đặc điểm là mức độ cận nhẹ hay trung bình dưới 6 đi ốp, bệnh tiến triển chậm, ít tăng độ, độ cận thường ổn định đến tuổi trưởng thành, ít bị biến chứng.

Biểu hiện của trẻ bị cận như thế nào?

Người cận thị bị giảm thị lực, nên muốn phát hiện bệnh cần đo thị lực. Song trước đó phải dựa vào các biểu hiện sau đây để đưa bệnh nhân đi khám mắt:

Lúc xem tivi trẻ phải lại gần mới xem được;

Đọc bài hay bị nhảy hàng hoặc phải dùng ngón tay để dò theo các chữ khi đọc;

Ở lớp trẻ phải lại gần bảng mới nhìn được, khi viết nhiều chữ viết sai, thiếu, hoặc phải chép bài của bạn;

Hay nheo mắt hoặc nghiêng đầu khi nhìn vật ở xa;

Hay dụi mắt mặc dù trẻ không buồn ngủ; thường kêu mỏi mắt, nhức đầu, hay chảy nước mắt;

Sợ ánh sáng hoặc bị chói mắt; không thích các hoạt động phải nhìn xa…

Kết quả đo thị lực trẻ bị cận ở một hoặc cả hai mắt. Cận thị bẩm sinh thường được phát hiện khi trẻ 1-2 tuổi, độ cận cao và tăng độ nhanh bất bình thường. Cận thị mắc phải ở trẻ em thường xuất hiện ở khoảng 5-6 tuổi.

Chữa trị cận thị ra sao?

Có nhiều phương pháp điều trị cận thị, phổ biến nhất là đeo kính; lắp kính sát tròng; mổ laser.

Đeo kính là cách thông dụng, rẻ tiền, dễ áp dụng. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa. Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng thì tiến triển cận thị sẽ chậm lại, không bị tăng độ. Tuy nhiên khi đeo kính, góc nhìn bị thu hẹp, hình ảnh bị thu nhỏ và gây vướng víu cho bệnh nhân.

Sử dụng kính sát tròng thì bệnh nhân phải giữ gìn vệ sinh tốt, đeo kính vào sáng sớm và tháo ra buổi tối trước khi ngủ. Không được đeo kính sát tròng khi xuống nước như khi đi tắm biển. Bệnh nhân đeo kính sát tròng cần được kiểm tra giác mạc 3 tháng một lần, phải ngưng sử dụng kính nếu có bất thường trên giác mạc hoặc có phản ứng của mắt với kính.

Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có thể điều trị bằng phương pháp mổ laser. Phẫu thuật này khá phổ biến, chính xác và có hiệu quả cao nhất trong phẫu thuật khúc xạ hiện nay, nhất là dùng excimer laser. Ưu điểm là không đau, thời gian phẫu thuật ngắn dưới 10 phút, độ chính xác cao, hơn 90% bệnh nhân trở về dưới 0,5 đi ốp, phục hồi thị lực nhanh, bệnh nhân nhìn rõ sau mổ 12-24 giờ. Tuy nhiên có thể có những biến chứng trong khi phẫu thuật như rách vạt, đứt vạt giác mạc với tỷ lệ rất thấp dưới 1%, hoặc biến chứng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.

Phương pháp đặt thủy tinh thể nhân tạo trong mắt được sử dụng khi bị cận nặng, có kèm bệnh đục thủy tinh thể. Dùng vật lý trị liệu như luyện tập điều tiết trên máy, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, laser năng lượng thấp có tác dụng làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng cường trương lực cơ.

Phòng tránh bệnh và hạn chế độ cận bằng cách nào?

Muốn phòng tránh bệnh cận thị có hiệu quả cần thực hiện tốt các biện pháp sau: Phải bảo đảm đủ ánh sáng trong các phòng học, lớp học cho trẻ em. Ánh sáng trong khi học tập, làm việc phải được phân bố đều và có cường độ tốt để không gây lóa mắt. Nên bố trí đèn chiếu sáng trong phòng và một ngọn đèn bàn đặt phía bên tay trái trên bàn học ở nhà của trẻ. Sách và tài liệu có chữ in rõ ràng trên giấy không quá bóng để tránh bị loá mắt.

Trong lớp nên xếp trẻ cận thị ngồi gần bảng. Không nên học tập, làm việc bằng mắt liên tục và kéo dài nhiều giờ. Nên cho mắt nghỉ ngơi từ 5 đến 10 phút bằng cách nhắm mắt lại hoặc thư giãn bằng cách nhìn ra xa sau mỗi giờ học. Không nên đọc sách trong bóng tối hoặc ngồi trước máy vi tính quá nhiều sẽ gây mỏi mắt. Hạn chế và giảm những triệu chứng mỏi mệt điều tiết do cận thị gây ra, cần làm việc ở khoảng cách thích hợp, từ mắt đến sách khoảng 30 – 40 cm.

Ngăn ngừa cận thị cho trẻ: ở ngoài trời

Các công trình khoa học trước kia đã tìm thấy rằng dành thời gian ở ngoài trời thì tốt cho mắt, nhưng người ta chưa chứng minh được đó là do luyện tập hay là do tiếp xúc với ánh sáng.

Tiến sĩ Cathy Williams, từ Đại học Bristol (Anh), cho biết công trình nghiên cứu mới đây là bằng chứng trực tiếp đầu tiên về lợi ích của ánh sáng tự nhiên đối với mắt người.

Nó cho thấy có mối liên hệ mạnh mẽ giữa thời gian ở ngoài trời và thị lực tốt, bất kể tiểu sử gia đình, thời gian trẻ đọc sách hay việc trẻ có chạy nhảy hay không.

Nhóm đã tìm hiểu kết quả kiểm tra mắt của 7.000 trẻ em ở tây nam nước Anh, vào các độ tuổi khi trẻ lên 7, 10, 11, 12 và 15. Họ cũng theo dõi việc trẻ vận động trong hơn một tuần.

Kết quả là, các bé thường xuyên chơi ở ngoài trời vào tuổi lên 8 hoặc 9 thì khi được 15 tuổi, tỷ lệ bị cận thị chỉ bằng một nửa so với các em ít ở ngoài trời.

“Chúng tôi vẫn không chắc chắn tại sao việc ở ngoài trời lại tốt cho mắt trẻ, nhưng trước các lợi ích này, chúng ta nên khuyến khích trẻ dành thời gian ở bên ngoài nhiều hơn, tất nhiên vẫn nên tránh để tiếp xúc với tia cực tím quá nhiều”, tiến sĩ William nói trên tạp chí Investigative Ophthalmology & Visual Science.

Từ 1/4 đến 1/2 số người trẻ tuổi ở phương Tây và tới 80% người trẻ tuổi ở đông nam Á bị ảnh hưởng bởi tật cận thị. Hơn 1/3 số người trưởng thành mắt tật này phải đeo kính để nhìn rõ vật ở xa – con số này đã tăng gấp đôi trong hơn 30 năm qua.

Năm ngoái, một công trình nghiên cứu của Anh cũng khẳng định tác dụng của ánh sáng mặt trời trong việc giảm cận thị cho bé.

Cận thị có thể cải thiện được nhờ ăn uống, dưới đây là những món ăn người cận thị nên dùng:

Thức ăn chứa nhiều Vitamin A có trong các loại gan động vật, sữa bò, sữa cừu, lòng đỏ trứng gà, dầu gan cá…

Thức ăn chứa nhiều caroten, chủ yếu có rau xanh, cải trắng, rau cải xanh, rau chân vịt, đậu xanh, bí đỏ, cà chua, cà rốt, táo, khoai lang, bí, gấc.

Thức ăn có chứa nhiều Vitamin B1 và niacine, có ở đậu các loại, thịt nạc, lạc, gạo lứt, rau lá xanh, đậu xanh, táo, ngô.

Cận thị, viễn thị, loạn thị: Ba tật khúc xạ của mắt

Các loại tật khúc xạ của mắt

Mắt chính thị

Là mắt có cấu tạo hài hòa giữa chiều dài trước sau của nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt. Khi đó ảnh cuả một vật ở vô cực (quang sinh lí là 5m) sẽ hội tụ đúng trên võng mạc. Nghĩa là tiêu điểm sau trùng với võng mạc. Lúc đó người ta sẽ thấy ảnh rõ nét.

Mắt cận thị

Là mắt có công suất khúc xạ quá mạnh so với chiều dài nhãn cầu, vì thế các tia sáng song song vào mắt sẽ hội tụ trước võng mạc. Nói cách khác, mắt cận thị có tiểm sau trước võng mạc. Ảnh sẽ mờ đi.

Có 2 loại cận thị

Cận thị trục (cận thị đơn thuần) như đã nói trên, là sự mất quân bình giữa chiều dài của mắt và lực khúc xạ của nó. Nhưng 2 chỉ số nầy vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Đây là loại cận thị thường gặp, bắt đầu ở lứa tuổi đi học, nhỏ hơn 6 độ, không có những tổn thương thực thể ở mắt.

Cận thị bệnh lí: chiều dài của mắt quá giới hạn bình thường. Cận trên 6 độ có thể 20 – 30 độ. Có những tổn thương, hư biến ở mắt, có tính di truyền.

Mắt viễn thị

Là mắt có có công suất khúc xạ kém so với chiều dài của mắt, vì thế các tia sáng vào mắt sẽ hội tụ sau võng mạc. Nghĩa là tiêu điểm sau nằm sau võng mạc. Nhìn vật thấy mờ, không rõ nét.

Nguyên nhân phổ biến của viễn thị là trục nhãn cầu ngắn. Ở trẻ em mới sinh thường có một độ viễn thị nhẹ từ 2 – 3 độ. Trong quá trình phát triển cùng với sự trưởng thành của cơ thể, nhãn cầu cũng dài thêm ra, mắt sẽ trở thành chính thị. Nếu sự phát triển này không trọn vẹn sẽ gây nên viễn thị.

Mắt loạn thị

Là mắt có hệ quang học không phải là lưỡng chất cầu. Nghĩa là bề mặt giác mạc không phải đồng nhất hình cầu mà có những kinh tuyến với các đường kính khác nhau. Do đó ảnh của một điểm qua hệ quang học nầy không phải một điểm mà là một đường thẳng. Như vậy sự khác nhau giữa viễn thị và loạn thị là sự khác nhau về khúc xạ. Mắt Viễn thị là mắt có khúc xạ lường chất cầu. Còn mắt loạn thị không phải cầu mà có thể coi như nhiều kính trụ chồng lên nhau. Mắt loạn thị có thể đi cùng với cận và viễn thị. Điều chỉnh kính cho mắt loạn thị phức tạp hơn so với mắt cận và viễn.

Các triệu chứng tật khúc xạ của mắt

Triệu chứng chung của tật khúc xạ là nhìn xa không rõ. Hay mỏi mắt, nhức đầu. Đối với trẻ em, khi thấy các triệu chứng: nhìn chữ trên bảng không rõ, hay nheo mắt, cầm sách đọc quá gần, hay đỏ mắt, kèm với hay than nhức mỏi mắt, nhìn mờ là rất có thể trẻ đã bị tật khúc xạ, cần phải cho trẻ đi khám ngay.

Điều trị

Hiện nay có 3 phương pháp để điều trị tật khúc xạ

Đeo kính gọng

Là phương pháp đơn giản, ít tốn kém và an toàn nhất. Nó được chỉ định cho mọi lứa tuổi. Tuy nhiên đối với trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi, việc xác định chính xác tật khúc xạ của trẻ phaỉ nhờ vào các phương pháp khám khúc xạ khách quan. Bạn nên đưa trẻ đến các bệnh viện có khoa Mắt để được khám chính xác. Tại đó, bác sĩ sẽ nhỏ thuốc liệt điều tiết (trẻ sẽ mờ vài ngày) sau đó sẽ dùng phương pháp soi bóng đồng tử để xác định tật khúc xa. Phương pháp này có giá trị đặc biệt ở trẻ em, người câm, người không trả lời chính xác.

Mang kính tiếp xúc (contactlens)

Trong trường hợp không muốn mang kính gọng, không muốn hoặc không có chỉ định mổ, có thể mang kính tiếp xúc.

Phẫu thuật

Được chỉ định cho những trường hợp vì lí do nghề nghiệp hay lí do gì đó mà không muốn mang kính gọng hoặc kính tiếp xúc. Hiện nay phương pháp mổ bằng laser (LASIK) cho kết quả rất tốt.Tuy phương pháp này chỉ được áp dụng cho trẻ lớn hơn 18 tuổi khi mà độ khúc xạ của trẻ ổn định.

Đọc sách phaỉ đủ ánh sáng. Không nên để chói mắt.

Không được ngồi quá gần màn hình tivi, xem tivi quá lâu.

Nên vui chơi giải trí, thể dục ngoài trời haì hoà với việc học tập.

Thức ăn hằng ngày phải đủ dinh dưởng gồm thịt, cá, dầu, các loaị đậu, hoa quả, rau xanh